Những thắng cảnh Quảng Bình

 


Hạc Đàm Ấn Nguyệt

Canh khuya gió mát cảnh trời trong.
Tiếng quạ nghe qua khóm bụi lùng.
Động hải dương ba qua hoạt lạch.
Hạc đàm ấn nguyệt với cao phong.
Trương buồm thủy thủ ngoài khơi bắc.
Thả lưới ngư ông giữa bể trung.
Vũ trụ bao la nhào đáy nước.
Nhìn xem cảnh vật chiếu đầy sông.

                       Túy Không Lưu Trọng Tuần


Lệ Sơn Vũ Phượng

Ở đời mà thấy cảnh tiên bồng.
Chín chín kỳ phong vũ phụng phong (1).
Thanh thủy đá lèn treo bản ngọc.
Linh Giang mây đạm chiếu lòng sông.
Lòng trời phú sẵn anh cùng kiệt.
Cửa thánh tô thêm tía lẫn hồng.
Bốn xứ khoa danh đời tiếp nối (2).
Sông La núi Lệ phụng song song (3).

                       Túy Không Lưu Trọng Tuần

Chú giải :
(1) Chín mươi chín kỳ phong họp thành Vũ Phượng Kỳ Phong.
(2) Bốn xứ Canh, Hà, Cảnh, Thổ.
(3) La Hà và Lệ Sơn.


Nhớ ngày đi qua Lũy Thầy

Phân tranh Nam Bắc sử ghi ngày.
Xáo thịt nồi da chuyện chẳng hay.
Hoành Lãnh đèo cao quân khó vượt.
Linh Giang cửa rộng sóng lên đầy.
Từ công chiến lược tày Gia Cát (1).
Trường dục binh cơ tiếng Lũy Thầy.
Vạn cốt kho tàng dành thắng cuộc.
Thảm thương chung bố giữa tao mày (2).

                       Túy Không Lưu Trọng Tuần

Chú giải:
(1) Sử ta sánh Đào Duy Từ với Gia CátLượng.
(2)Tao mày là lời nói thân yêu trong gia đình chớ không là lời nói vô.


Lý Hòa Ngư Hương

Sỉ kiếm “hãy học với nên cày“ (1).
Chài lưới nghề này cũng quý thay.
Gan ruột lèo thuyền ra bể bắc.
Thẹn thuồng nắm sổ đến thằng tây (2).
Làng Hòa thổ tục kêu rằng lái.
Họ Nguyễn thanh tao lót chữ duy.
Đậu đạt liền khoa đồn khắp xứ.
Khen tài đi mách phải “thày lay“ (3).

                       Túy Không Lưu Trọng Tuần

Chú giải:
(1) Xứ mình hay nói “học hay, cày nên“
(2) Hằng năm đến tháng giêng các chủ ghe thuyền đến sở thương chánh đỗi sổ.
(3) Tục mình nói không phải việc của mình mà can thiệp vào là “thày lay”.


Mâu Bút Kịch Lam

Sông đính ngày ngày nhuộm sắc lam.
Kích phong kích vũ dưới trời Nam.
Mâu sơn hình tạc gươm hùng khí.
Bút lãnh sơn đề chữ chánh tâm.
Nép bóng từ bi soi giác hải.
Đứng bên nguyệt diệu chiếu thanh đàm.
Vui trông mây trắng thường qua lại.
Chỉ thảm người bỏ giữa đá nham.

                       Túy Không Lưu Trọng Tuần

Nhật Lệ Thương Lương

Tục gọi nơi đây cửa Lê Giang.
Ghe tuyền đổ bộ đến Hiền Lương.
Con đường bao dặm nêu hưng phế.
Cửa bể mấy tầm sánh ngọc vàng.
Trường Dục lũy xây từng vững Chúa.
Trấn Ninh đồn lập đã đồ vương.
Non sông Mâu Lệ anh hùng thế.
Vừng ác chiều tà khi loáng gương.

                       Túy Không Lưu Trọng Tuần


Nhớ Động Phong Nha

Từ-Thức Thiên-Thai hẳn thấy đây.
Quê tôi diễn lại ở nơi này.
Trông trời chóp lỗ xem mây cuộn (1).
Vợi nước bên thuyền thưởng cá bơi (2).
Đủ lối quái kỳ hình nhụ thạch (3).
Đầy thơ kim cổ khách Đông Tây (4).
Tranh hùng gấu cọp say mài vuốt.
Phong động quy lai khó hẹn ngày (5).

                       Túy Không Lưu Trọng Tuần

Chú giải:
(1) Đi thuyền vào Động độ 500 mét, qua bãi cát khoảng 150 m, vào thêm 100 mét nữa (đoạn này rất khó đi) nhìn lên cao thấy một lỗ thông thiên.
(2) Từ Sông Cái (Sông nguồn Son) đi thuyền vào Động khoảng 500m có một nhánh sông không biết từ nguồn nào chảy vào, cây khô ứ đọng lâu đời và đá lởm chởm. Đi bộ rất nguy hiểm .Đi thuyền nhỏ vào trông hai bên cá nhiều và lượn quanh rất đẹp.
(3) Vào đến cửa động đã thấy nhiều thạch
nhụ hình thù kỳ quái vào xa hai bên vách đá xanh vẫn còn nhiều các tượng hình này.
(4) Hai bên vách động có nhiều thơ đề lưu viết bằng các loại chữ Hán, Quốc và Ngoại ngữ do các du khách già trẻ, thi nhân cũng như tài tử.
(5) Động cách làng của tác giả không tới 2 cây số.


                                 Họa bài

                        Qua sông Gianh

của Cố Tiền bối Từ-Tâm Nguyễn Huệ

Nhớ xưa Ất Dậu (1) dạ bùi ngùi.
Qua BAC sông Gianh (2) hóa chẳng vui.
Nghĩa dũng Cần Vương (3) dàn khắp xứ.
Quan quân Pháp địch chiếm ba đồi (4).
Phân tranh Trịnh Nguyễn con đồng vái.
Thống trị Bắc Nam chủ khác người.
Này hỡi dân ta đồng tiến mạnh.
Chớ riêng ai đó! khóc sụt sùi.

                       Túy Không Lưu Trọng Tuần

Chú giải:
(1)Năm thất thủ kinh đô Huế, Phan Đình Phùng phò vua Hàm Nghi xuất thành ra lập chiến khu ở huyện Tuyên Hóa.
(2)Chiến khu này nằm ở nguồn sông Gianh.
(3)Tên của quân đội toàn quốc khởi nghĩa chống Pháp.
(4)Ba đồi của 3 đồn Pháp chiếm để ngăn chận quân khởi nghĩa vào chiến khu : Minh Cầm, Quy Đẹt, Thanh Lạng thuộc huyện Tuyên Hóa.


    Thanh Thủy Tiềm Long

Gần non Lệ gió mát trăng trong.
Đâu thấy Tiềm long thấy hiển long.
Danh yết võ, văn trên thạch bản.
Tiếng đồn Lê, Phạm cạnh cao phong (1).
Toàn châu nhân vật đầy đâu đó.
Tống khí anh linh chả dị đồng.
Linh địa đời đời sinh tuấn kiệt (2).
Ba dòng sông chảy nước càng trông (3).

                       Túy Không Lưu Trọng Tuần

Chú giải:
(1) Phong cảnh núi Lệ Sơn.
(2) Địa linh sinh nhân kiệt.
(3) Nguồn Son, nguồn Nậy, nguồn Van.


  Tiên giới Quỳnh hương

Vu sơn vu giáp cũng thiên hương (1).
Cuộc nợ trần hoàn chưa khỏi vương.
Vật đổi sao dời tìm đế tử (2).
Trăng trong núi biếc nhớ Lưu Lang.
Quỳnh đài xuất hiện trên sông bạc (3).
Tiên giới bao quanh dãy núi vàng (4).
Chán nản Hán Hoàng say tục lụy.
Xích Tùng về động gọi Trương Lương (5).

                       Túy Không Lưu Trọng Tuần

Chú giải:
(1) Thơ Trần Đoàn (Xử xỉ bất tri vu giáp mộng) Vậy Quỳnh Hương của xứ ta còn quốc sắc thiên hương như vu giáp chưa được là tiên.
(2) Đằng Vương Các Tự (Vật hoán tinh di kỷ độ thu. Các trung đế tử kim hà tại)
(3) Lưu Nguyễn xuất Thiên Thai (Bích sơn lưu nguyệt chiếu thương đài).
(4) Non vàng bể bạc (Lời gia tăng cho vùng Hoành Sơn).
(5) Xích Tùng Tử cho Trương Lương về Hán, sau thấy Hán Hoàng tham tài háo sắc lại gọi Trương Lương về động.


Từ Ức Tỉnh Thủy

Từ Ức du du thẳng mắt trông.
Hình như bán nguyệt nửa vành cong.
Yến sơn ào ạt nghe hùng lãng.
Phụng lãnh mịt mù ngóng Bích Phong.
Đắc thế anh hùng ngồi tréo mảy (1).
Thất thời hào kiệt cúi lòn mông (2).
Chứng đầu Bố Chánh trời phò nguyện (3).
Tỉnh Thủy loan giang nước một dòng (4).

                       Túy Không Lưu Trọng Tuần

Chú giải:
(1) Hạng Võ ngồi xổm ra mắt Bái Công.
(2) Hàn Tín lúc chưa gặp thời bị bắt lòn trôn giữa chợ. Ý nói Chúa Nguyễn Hoàng chưa gặp thời cũng thế thôi.
(3&4) Chúa Nguyễn khai cơ chiếm ngay Bố Chánh thuộc thắng cảnh của Từ Ức Tỉnh Thủy loan giang trường lưu.


Vịnh Sông Gianh

Linh Thủy ăn thông mấy ngả nguồn.
Chảy từ ngàn thẳm xuống luôn luôn.
Ngư ông thả lưới long lanh nguyệt.
Điếu phủ buông câu lững thững dòng.
Bến cũ Bắc Nam còn nhớ mãi.
Hờn xưa Trịnh Nguyễn há trôi luôn.
Thương ai vạn nẻo tình lưu luyến.
Gió thổ trùng dương bạt cánh buồm.

                       Túy Không Lưu Trọng Tuần


    Tấc lòng thanh khí(Xướng họa)

Minh Cầm Phật Huyền

Nguyên vận

Một dãy làn xanh dựng sát sông.
Sắc mười cửa động nhuốm huyền không.
Nước ngời ánh giác trăng Gianh đạm.
Rừng cuốn màn mê gió Trổ lòng.
Kho lạ lung linh châu ngọc tụ.
Chùa Linh man mác khói hương xông.
Lạc Sơn riêng một trời Tiên Phật.
Du khách đăng cao thoát bụi hồng.

                       Trúc Khê 


Đáp họa

Mười hai thạch động sát ven sông.
Hỏi cảnh Minh Cầm có đẹp không?
Trước cửa chùa Hương xôi oản sẵn,
Ven tường Động đá ngọc châu lồng.
Đường vào bái Phật lòng thiền rộng.
Lối dẫn tầm Tiên đá thẳng xông.
Trong gió cầm thanh nghe phảng phất.
Dưới chân thấy rõ bụi trần hồng.

                       Hiệp Cung


Điệp họa

Minh Cầm, Phật Tích cạnh bờ sông.
Hỏi bạn đồng thanh có biết không?
Châu ngọc cành sương (1), hơi đá cuộn (2)
Tía hồng cánh Yến (3) ánh trăng lồng (4).
Điểu cầm hoa quả lơn xơn cúng (5).
Thiện tín hương trầm bát ngát xông.
Thanh tịnh đến đây là Chánh Giác.
Độ chòm mây xám giữa trời hồng (6).

                       Túy Không Lưu Trọng Tuần

Chú giải:
(1)Sương đọng trên lá trông như châu ngọc.
(2) Hơi từ đá bốc lên cuồn cuộn như mây.
(3)Ở đây có nhiều tổ yến, cánh yến có lông mầu tía và hồng.
(4)Bốn câu này đều là mệnh đề độc lập.
(5) Ýcủa Chu Mạnh Trinh (chim cúng trái).
(6)Nhân cách hóa “mây”. Mây xám như người ác, khi chứng quả Bồ Đề rồi cũng có thể độ được cả vạn vật.


  Quãng Khê Cổ Độ

Nguyên vận

Quãng Khê nổi tiếng với sông Gianh.
Cổ Độ gần nơi dấu cổ thành.
Sóng động, quân hùng như réo giận.
Mây ùn trời thẳm vẫn trong xanh.
Ghe vào vững dạ trông lên Bảng.
Nhạn xuống yên tâm vượt núi Hoành.
Bố Chánh cờ tung bao thuở loạn.
Thanh Hà còn giữ nét thanh thanh.

                       Trúc Khê


Đáp họa

Có lẻ sông Ranh đọc hóa Gianh.
Đây nơi Trịnh Nguyễn đắp xây thành.
Lũy Ninh cuối bãi khu tường xám.
Đồn Trịnh đầu ghềnh đám cỏ xanh.
Đó nét tàn đi, Hời chiến bại.
Đây nền thương chánh, Pháp tung hoành.
Bến xưa trải đủ trò hưng phế.
Gió vẫn oai hùng, nước vẫn thanh!

                       Hiệp Cung


Điệp họa

Cái độ ngày xưa gọi bến Gianh.
Băng qua Cao Hạ cổ Chiêm Thành (1).
Si tình họ Chế dâng Châu Lý (2).
Mở cõi Triều Trần rạng sử xanh.
Cặp lái một lèo vào cửa Lệ (3).
Thòng chân ba bước đến non Hoành.
Biết đâu Nguyễn Huệ không dùng đó.
Chở lính ra ngoài buổi chống Thanh!

                       Túy Không Lưu Trọng Tuần

Chú giải:
(1) Ở làng Cao Lao Hạ có cổ thành gọi là thành Vua Chiêm.
(2) Chế Mân dâng vua Trần hai châu Ô và Lý để cưới công chúa Huyền-Trân.
(3) Hai câu 5 và 6 có ý nói từ Cô Độ (biên giới châu Lý) đến cửa Nhật Lệ và đèo Hoành Sơn không bao xa .

[Back]                                                           [Next]
Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s